Người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khi còn là một thanh niên, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, đã biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế"…

leftcenterrightdel
Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh Tư liệu

Năm 1926, đồng chí được sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng. Ý chí cách mạng, lý tưởng cộng sản và tinh thần yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới tình cảm và lý tưởng của đồng chí, biến đồng chí từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.

Đầu năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng những nhiệm vụ quan trọng. Cũng từ đây, bắt đầu một thời kỳ dài gần 30 năm (cho tới khi Bác mất), đồng chí Phạm Văn Đồng thường xuyên làm việc bên Bác, theo sự chỉ dẫn và phân công của Người.

Đồng chí Phạm Văn Đồng đã có khoảng thời gian hoạt động cách mạng thời kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Tuyên Quang. Tháng 6/1949, đồng chí Phạm Văn Đồng từ Nam Trung Bộ trở lại Tuyên Quang nhận công tác mới, được bổ sung là Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 25-27/7/1949, đồng chí được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, đồng thời giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao.

Trên cương vị Thủ tướng, đồng chí thay Chủ tịch Hồ Chí Minh điều hành công việc của Chính phủ và cùng đồng chí Phan Mỹ điều hành Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ, lo những vấn đề kinh tế, tài chính, tiền tệ, ngân hàng, canh công, về văn hoá, xã hội, tổ chức, nhân sự, ngoại giao, nhất là vấn đề xây dựng Nhà nước dân chủ Nhân dân.

leftcenterrightdel
 Từ phải sang: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc. Ảnh Tư liệu

Thời gian ở Tuyên Quang, ông Phạm Văn Đồng đã ở và làm việc tại nhiều địa điểm trên đất Tuyên Quang như: Huyện Sơn Dương (cũ) trong các năm 1949 đến năm 1953; huyện Chiêm Hoá (cũ) từ cuối 1950, đầu 1951; huyện Yên Sơn (cũ) năm 1954.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng được bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương. Đồng chí còn đảm nhận các nhiệm vụ Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Tiểu ban Miên – Lào, thành viên Ban Tuyên huấn Trung ương.

Ngày 11/3/1951, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được Hội nghị Liên minh Nhân dân ba nước Việt – Miên – Lào bầu vào Uỷ ban Liên minh Nhân dân Việt -  Miên - Lào.

Tháng 9/1953, Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong Chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954. Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập “Hội đồng cung cấp Mặt trận” do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Hội đồng cung cấp có nhiệm vụ chỉ đạo việc tiếp tế cho tiền tuyến của các cơ quan kho thóc, y tế, mậu dịch; lo công tác vận tải và dân công, huy động tối đa sức người, sức của cho các trận đánh lớn trên chiến trường.

Từ Kim Quan, tháng 3/1954, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên đường tham dự Hội nghị Giơ- ne- vơ.

Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ngày 1/3/1906, trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi và có tên gọi thân mật là Tô (đây cũng từng là bí danh của ông). Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Người về tư tưởng, đạo đức, tác phong, về tư duy chính trị và văn hóa. Với bề dày công tác (đồng chí Phạm Văn Đồng đã có 35 năm liên tục là Ủy viên Bộ Chính trị (1951 - 1986), 32 năm là Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1987), 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1987 - 1997), đồng chí Phạm Văn Đồng là một nhà lãnh đạo tài năng, uy tín, một nhà văn hóa lớn của đất nước, được bạn bè quốc tế trân trọng, nể phục.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ

Trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã lo tổ chức một bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém mà có hiệu quả, tích cực phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của Nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến; tăng cường sức mạnh và sự an toàn hậu phương của chiến tranh; tổ chức tốt công tác chi viện cho tiền tuyến.

Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, Đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước "tay trắng dựng nên cơ đồ" điều hành, chèo lái đất nước vượt qua những giai đoạn đặc biệt khó khăn: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và khôi phục, phát triển đất nước sau ngày thống nhất. Trong hoàn cảnh chiến tranh và bao vây cấm vận, Đồng chí luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; từng bước củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước cách mạng; xây dựng nền hành chính thống nhất, đề cao kỷ luật, kỷ cương; chú trọng tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội… chăm lo đời sống Nhân dân; huy động sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Đồng chí chính là một trong những nhà lãnh đạo trực tiếp đặt nền móng cho sự nghiệp Đổi mới của toàn dân tộc trong thế kỷ XX. Sau ngày đất nước thống nhất, trước những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, Đồng chí đã sớm trăn trở tìm hướng tháo gỡ, tìm đường khuyến khích cách làm mới trong quản lý và sản xuất, góp phần hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Đồng chí cũng là người để lại dấu ấn tại những công trình thế kỷ, mang tính biểu tượng cho trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam trong kỷ nguyên xây dựng đất nước như: Thủy điện Hòa Bình, Nhà máy gang thép Thái Nguyên… Những dấu ấn này thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy, tinh thần đổi mới sáng tạo, tư duy thực tiễn và tầm nhìn chiến lược của người đứng đầu Chính phủ.

Suốt 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách: 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đi qua trọn vẹn thế kỷ XX bằng sự tận tâm cống hiến, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng phong phú, kiên trì, bền bỉ của đồng chí Phạm Văn Đồng để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu, thiết thực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hôm nay, trong đó có 5 bài học sau:

Một là, kiên định lý tưởng, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Suốt đời trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, luôn giữ vững bản lĩnh chính trị và niềm tin vào con đường đã lựa chọn. Đây là bài học sâu sắc nhắc nhở chúng ta hôm nay phải kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững định hướng phát triển trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và nhiều biến động phức tạp.

Hai là, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; lấy Nhân dân làm trung tâm, kiên quyết chống quan liêu, xa rời Nhân dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là yêu cầu cốt lõi trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay: Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự vì dân, dựa vào dân và chịu trách nhiệm trước dân.

Ba là, đề cao trí tuệ, tư duy đổi mới, phát triển giáo dục và văn hóa; coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, văn hóa là nền tảng tinh thần và động lực của phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức, bài học ấy càng có ý nghĩa: Muốn phát triển nhanh và bền vững phải chú trọng đầu tư cho con người, cho khoa học, cho tri thức, cho đổi mới sáng tạo đi đôi với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

leftcenterrightdel
 Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ảnh Tư liệu

Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Trong đối ngoại, Đồng chí luôn vững vàng về lập trường nhưng mềm dẻo, sáng tạo trong phương pháp. Đây là kinh nghiệm quý trong hội nhập quốc tế hiện nay: Giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực mở rộng hợp tác vì lợi ích quốc gia-dân tộc.

Năm là, đề cao trách nhiệm nêu gương, tinh thần tự phê bình và phê bình; giản dị, liêm khiết, tận tụy và dám nhận trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, nhất là những việc khó, việc có tính chất quyết định, việc có tính chất nhạy cảm. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, việc nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố niềm tin của Nhân dân.

"Người đầy tớ trung thành" của Nhân dân 

Năm 1955, đồng chí Phạm Văn Đồng được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Suốt 32 năm trên cương vị này (1955-1987) - một kỷ lục trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam - ông đã điều hành bộ máy hành chính, với tinh thần làm việc không mệt mỏi, thực hiện những quyết sách mang tính chiến lược, dẫn dắt dân tộc qua hai thời kỳ: Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Xây dựng và tìm đường đổi mới kinh tế.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hình ảnh vị Thủ tướng dáng người thanh mảnh, mặc bộ quần áo kaki sờn bạc màu, có mặt tại các công trường, nhà máy hay những vùng quê bị bom đạn cày xới đã trở nên quá đỗi quen thuộc. Ông không ngồi yên trong phòng làm việc để nghe báo cáo mà đi vào thực tiễn để lắng nghe hơi thở của đời sống. Ông luôn nhắc nhở cán bộ: Phải tiến hành đồng thời việc đổi mới công tác quản lý kinh tế với công tác quần chúng... Với ông, mọi chính sách nếu không xuất phát từ lợi ích của Nhân dân và không được nhân dân ủng hộ thì chỉ là những con chữ khô khan trên giấy.

32 năm ở vị trí "đầu sóng ngọn gió", trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã để lại một di sản đồ sộ: Một nền hành chính phục vụ, một tư duy đổi mới quyết liệt và hơn hết là hình ảnh một "người đầy tớ trung thành" của Nhân dân.

Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển mình đầy khó khăn của đất nước sau năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thể hiện một tầm nhìn đổi mới sắc sảo. Tại các phiên họp của Hội đồng Bộ trưởng, ông luôn nhấn mạnh vào việc phá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp để giải phóng sức sản xuất. Ông là người cổ vũ mạnh mẽ cho những "khoán mới" trong nông nghiệp, những thử nghiệm đổi mới trong công nghiệp. Bản lĩnh của ông nằm ở chỗ dám nhìn thẳng vào những sai lầm, khuyết điểm của bộ máy và kiên quyết tìm đường ra cho nền kinh tế dân tộc.

Ông dành sự quan tâm đặc biệt cho ngành giáo dục và y tế - hai trụ cột mà ông coi là nền tảng của một quốc gia văn minh. Mỗi lần đi thăm các trường học hay bệnh viện, ông không chỉ kiểm tra công việc mà còn ân cần hỏi han điều kiện sống của từng giáo viên, bác sĩ và các em nhỏ.

Trong quan hệ với các lãnh đạo các bộ, ngành, ông vừa là một vị chỉ huy nghiêm khắc về kỷ luật, vừa là một người anh, người đồng chí chân thành. Ông kiên quyết chống lại thói quan liêu, cửa quyền, coi đó là "kẻ thù nội xâm" tàn phá niềm tin của nhân dân vào chế độ. Đối với ông, chức vụ Thủ tướng không phải là quyền lực để hưởng thụ, mà là trọng trách lớn lao do nhân dân tin tưởng ủy thác và mong đợi.

Nhà văn hóa lớn và tinh thần đại đoàn kết 

Cái chất "văn hóa" trong con người Phạm Văn Đồng không đến từ những triết lý xa vời, mà bắt nguồn từ sự am hiểu sâu sắc di sản dân tộc và sự nhạy bén với tinh thần thời đại. Ông là người dành cả cuộc đời để vun đắp cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, coi đó là linh hồn của dân tộc. Những bài viết, bài nói của ông về Nguyễn Đình Chiểu, về Nguyễn Du hay về Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở mức độ phê bình văn học, mà đã trở thành những tiểu luận văn hóa mẫu mực, khơi dậy niềm tự hào và sức sống nội sinh của con người Việt Nam trong những giai đoạn ngặt nghèo nhất của cuộc kháng chiến.

leftcenterrightdel
 Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1966 xem trưng bày thuốc và dụng cụ y tế. Ảnh Tư liệu

Đặc biệt, đạo đức văn hóa của ông gắn liền mật thiết với tư tưởng đại đoàn kết của người thầy Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng gian khổ, ông chính là người được Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ phụ trách hướng "Tây tiến", trực tiếp chỉ đạo xây dựng Chiến khu Thiện Thuật, Chiến khu Châu Chí Kiên... Ông đi đến đâu cũng được nhân dân yêu mến, quý trọng. Bí quyết của ông chính là sự chân thành và tôn trọng tuyệt đối phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ông ăn cùng, ở cùng và nói tiếng nói của đồng bào, dùng sự nhân văn để cảm hóa và kết nối mọi tầng lớp nhân dân quanh ngọn cờ đại nghĩa.

Trên bình diện quốc tế, phong cách ngoại giao văn hóa của Phạm Văn Đồng đã để lại những ấn tượng sâu đậm. Tại các hội nghị quốc tế hay trong những chuyến công du, ông luôn xuất hiện với một phong thái điềm tĩnh, lịch thiệp và đầy trí tuệ. Ông không chỉ dùng lý lẽ chính trị mà còn dùng sức mạnh của chính nghĩa và văn hóa để thuyết phục bạn bè thế giới. Cách ông tiếp cận các vấn đề toàn cầu luôn thấm đẫm tinh thần nhân văn, yêu chuộng hòa bình và sự thấu cảm giữa các dân tộc.

Đối với thế hệ trẻ, ông luôn đau đáu về một nền giáo dục toàn diện - nơi không chỉ dạy chữ mà còn dạy làm người. Ông tin rằng văn hóa chính là "sức mạnh mềm", là sợi dây gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai.

leftcenterrightdel
 Ảnh Tư liệu

Trong tư duy của Phạm Văn Đồng, đại đoàn kết là một giá trị văn hóa bền vững, được xây dựng trên nền tảng của lòng nhân ái và sự thấu cảm sâu sắc. Ông quan niệm, muốn đoàn kết, trước hết phải hiểu và trọng văn hóa của nhau. Sức mạnh đại đoàn kết thể hiện rõ nét nhất trong cách ông tiếp cận đồng bào các dân tộc thiểu số. Ông không đến với đồng bào bằng mệnh lệnh của một vị lãnh đạo, mà bằng tâm thế của một người con đi học hỏi.

Ông chú trọng việc cán bộ phải biết tiếng dân tộc, hiểu phong tục tập quán, kính trọng các già làng, trưởng bản. Với ông, văn hóa của mỗi dân tộc anh em là một mảnh ghép quý giá tạo nên bức tranh toàn cảnh của dân tộc Việt Nam. Khi ông cùng ăn thắng cố, cùng uống rượu cần, cùng nói tiếng Nùng, tiếng Tày, ông đã xóa nhòa ranh giới giữa chính quyền và Nhân dân, biến lý tưởng cách mạng thành niềm tin tự thân của mỗi người dân vùng cao.

Đại đoàn kết trong tư duy văn hóa Phạm Văn Đồng còn là sự khoan dung, trọng dụng nhân tài và tri thức, bất kể xuất thân. Ông là người có khả năng quy tụ các nhân sĩ, trí thức, những người có tư tưởng tiến bộ nhưng còn khác biệt về quan điểm chính trị, về chung một ngọn cờ đại nghĩa. Ông dùng văn hóa để đối thoại. Trong các cuộc tiếp xúc, ông luôn lắng nghe bằng sự tinh tế của một trí thức lớn, dùng sự chân thành để hóa giải những nghi ngại. Đối với ông, đoàn kết là nghệ thuật tìm ra "điểm chung" cao nhất: Đó là lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Chính sự bao dung văn hóa này đã tạo nên một mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, vững chắc như bàn thạch.

Một điểm đặc sắc khác là ông gắn kết đại đoàn kết với việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Ông lo sợ rằng nếu đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc sẽ trở nên rời rạc. Vì vậy, ông cổ vũ việc giữ gìn tiếng Việt, các lễ hội truyền thống và đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Ông nhìn nhận đoàn kết là sự tiếp nối: Thế hệ đi trước dìu dắt thế hệ sau, quá khứ tiếp lực cho hiện tại. Tinh thần "Đại đoàn kết" của ông không dừng lại ở con người, mà là sự đoàn kết của các giá trị: Lấy tinh hoa của nhân loại để làm giàu thêm bản sắc Việt, tạo nên một sức mạnh nội sinh đủ sức đương đầu với mọi thế lực ngoại bang.

Nguồn nguonluc
Link bài gốc

https://nguonluc.com.vn/ong-pham-van-dong-nguoi-co-32-nam-lam-thu-tuong-chinh-phu-viet-nam-a23980.html